Mỗi cá nhân từ khi sinh ra đều có một dân tộc và được ghi nhận trong giấy khai sinh. Vậy có được thay đôi Dân Tộc không?. Dân tộc là kết quả của quá trình phát triển loài người, từ thuở sơ khai cho đến một cộng đồng thống nhất về lãnh thổ, ngôn ngữ và văn hóa. Việt Nam hiện nay có 54 dân tộc anh em, trong đó có đến 53 dân tộc thiểu số. Đảng và Nhà nước ta hiện nay áp dụng nhiều chính sách khác nhau đối với dân tộc đa số và thiểu số.
Điều này dẫn đến trường hợp một người muốn thay đổi dân tộc của mình nhưng không biết liệu pháp luật Việt Nam có cho phép hay không? Trong bài viết này, Công ty Luật A&An sẽ giúp bạn đọc tìm hiểu chi tiết về vấn đề này. Xin mời các bạn tham khảo.

Căn cứ pháp lý:
– Luật Hộ tịch 2014 và các văn bản hướng dẫn chi tiết hiện hành.
MỤC LỤC
1. Cá nhân có được quyền thay đổi dân tộc không
Hiện nay, pháp luật Việt Nam không có quy định về việc cá nhân được quyền “thay đổi dân tộc”. Tuy nhiên tại khoản 1 Điều 29 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Cá nhân có quyền xác định, xác định lại dân tộc của mình.”
Theo đó “xác định lại” dân tộc được hiểu là cá nhân ban đầu có một dân tộc khác, nhưng tùy từng trường hợp cụ thể mà có thể yêu cầu xác định lại dân tộc của mình.
2. Trường hợp các nhân được thay đổi dân tộc
Căn cứ tại Khoản 3, Khoản 4, Điều 29 Bộ luật Dân sự 2015 thì việc xác định lại dân tộc của một cá nhân được quy định như sau:
“3. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong trường hợp sau đây:
a) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau;
b) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình.
4. Việc xác định lại dân tộc cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi phải được sự đồng ý của người đó.”
Từ quy định trên, ta hiểu rằng khi xét thấy thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật Dân sự 2015 thì cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc của mình và trong trường hợp cá nhân từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi thì cần phải được sự đồng ý của chính người đó.
3. Về thẩm quyền thay đổi dân tộc của cá nhân
Căn cứ theo Khoản 2, 3, Điều 46 Luật Hộ tịch 2014, thẩm quyền xác định lại dân tộc được quy định như sau:
“2. Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã đăng ký hộ tịch trước đây có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc.
3. Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước; xác định lại dân tộc.”
Theo đó, nếu cá nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì thẩm quyền thay đổi dân tộc thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đăng ký hộ tịch trước đây. Nếu là cá nhân Việt Nam trong nước thì thẩm quyền thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cá nhân đó đăng ký hộ tịch hoặc nơi cư trú.
4. Thủ tục thay đổi dân tộc của cá nhân
Căn cứ theo quy định tại Điều 47 Luật Hộ tịch 2014 thì thủ tục thay đổi dân tộc trong giấy khai sinh được thực hiện như sau:
“1. Thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch được áp dụng theo quy định tại Điều 28 của Luật này.
Trường hợp yêu cầu xác định lại dân tộc thì phải có giấy tờ làm căn cứ chứng minh theo quy định của pháp luật; trình tự được thực hiện theo quy định tại Điều 28 của Luật này.”
Vì vậy căn cứ theo Điều 28 Luật Hộ tịch 2014, trình tự yêu cầu xác định lại dân tộc được thực hiện như sau:
“1. Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn. Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc. Trường hợp đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch không phải tại nơi đăng ký hộ tịch trước đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Ủy ban nhân dân nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch.
3.Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là Cơ quan đại diện thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch.”
Như vậy, trình tự, thủ tục thay đổi dân tộc được thực hiện theo như trình tự, thủ tục đăng ký, thay đổi, cải chính hộ tịch quy định tại Điều 28 Luật Hộ tịch 2014. Ngoài ra, người yêu cầu thay đổi dân tộc phải nộp có giấy tờ chứng minh như giấy khai sinh hoặc các giấy tờ khác chứng minh dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ.
Trên đây là nội dung bài viết của Luật sư A&An về việc cá nhân muốn thay đổi dân tộc có được không. Nếu Quý khách hàng có bất kỳ khó khăn hay vướng mắc gì trong quá trình tham khảo và áp dụng quy định trên, hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ sớm nhất.





















